Đồng chí là một nhà lãnh đạo xuất sắc, có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước, nhân dân, với nhiều dấu ấn nổi bật trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời là người chỉ huy quân sự tài ba, quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, dạn dày kinh nghiệm trận mạc, có nhiều đóng góp trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và làm nhiệm vụ quốc tế cao cả.

Sinh ra và lớn lên trong cảnh nước nhà bị thực dân Pháp đô hộ, xâm lược, chứng kiến người dân phải sống cơ cực, lầm than dưới chế độ thực dân, phong kiến, đã hun đúc trong đồng chí lòng yêu nước nồng nàn, chí căm thù giặc sâu sắc và tinh thần đấu tranh cách mạng triệt để. Đồng chí được giác ngộ cách mạng năm 16 tuổi, tham gia hoạt động cách mạng ở địa phương năm 17 tuổi và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) năm 18 tuổi. Từ đó, đồng chí tích cực tham gia hoạt động trong Mặt trận Dân chủ huyện Phú Vang và Phú Lộc (Thừa Thiên Huế); giác ngộ, vận động, phát triển phong trào của công nhân cao su ở Lộc Ninh; đẩy mạnh tuyên truyền cách mạng trong công nhân và nhân dân; lãnh đạo công nhân cao su và đồng bào dân tộc Hớn Quản và Bù Đốp (Bình Phước) khởi nghĩa thành công. Với phẩm chất sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trải nghiệm thực tiễn trong những năm tháng hoạt động cách mạng sôi nổi, đầy khó khăn, thử thách đã tôi luyện đồng chí Lê Đức Anh trở thành người chiến sĩ cộng sản kiên cường, suốt đời chiến đấu, hy sinh vì lý tưởng cách mạng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân.

Đồng chí Lê Đức Anh đã có đóng góp quan trọng trong cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Tháng 8 năm 1945 và công lao lớn trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Phẩm chất và tài năng của đồng chí không ngừng tỏa sáng, phát huy trên các cương vị được Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội giao phó. Đồng chí đã tham mưu với lãnh đạo, chỉ huy các cấp nhiều nội dung quan trọng và trực tiếp tham gia chỉ huy nhiều chiến dịch giành thắng lợi, như: Chiến dịch Bến Cát; chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Junction City của Mỹ-ngụy; cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968; chống địch lấn chiếm, phá hoại Hiệp định Paris trên địa bàn Quân khu 9 (1973); Chiến dịch Đường 14-Phước Long; Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (tháng 4-1975); chỉ huy xây dựng lực lượng vũ trang ở Đồng bằng sông Cửu Long và chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam; làm nhiệm vụ quốc tế, giúp nhân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ, khôi phục sản xuất, xây dựng lại đất nước.

Noi gương Đại tướng Lê Đức Anh, toàn quân phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong thời kỳ mới
Đại tướng Lê Đức Anh, Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (ngồi thứ hai, từ phải qua) cùng các đồng chí trong Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) tại Hà Nội (tháng 8-1987). Ảnh tư liệu.

Trong sự nghiệp cách mạng của mình, đồng chí Lê Đức Anh được giao các chức vụ quan trọng, như: Tư lệnh Quân khu 9; Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7-Chỉ huy trưởng Cơ quan tiền phương của Bộ Quốc phòng ở Mặt trận Tây Nam; Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia; Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam; Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Trên các cương vị công tác, đồng chí luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng của người đảng viên cộng sản; luôn tận tụy, cương nghị, bản lĩnh, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đem hết tài năng, trí tuệ của mình hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; là người chỉ huy, vị tướng tài ba của Quân đội, nhà lãnh đạo xuất sắc, trung kiên và có uy tín của Đảng và Nhà nước.

Với cương vị Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, từ kinh nghiệm công tác phong phú, sâu sắc, đồng chí cùng tập thể Thường vụ, Đảng ủy Quân sự Trung ương, thủ trưởng Bộ Quốc phòng tham mưu với Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối quân sự, quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới, phát huy sức mạnh toàn dân trong sự nghiệp củng cố quốc phòng; lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ, nhất là tầm nhìn chiến lược về phòng thủ, bảo vệ chủ quyền biển, đảo; điều chỉnh tổ chức, biên chế, giảm quân số, tinh gọn lực lượng; cải thiện đời sống bộ đội, thực hiện chính sách hậu phương Quân đội, xây dựng QĐND Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Với cương vị Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh luôn sát cánh cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, trực tiếp là tập thể Bộ Chính trị khởi xướng và đề xuất nhiều quyết sách quan trọng chỉ đạo toàn dân, toàn quân tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế và tình trạng bị bao vây, cấm vận. Đồng chí đã dành nhiều thời gian cùng Trung ương Đảng, Quốc hội xây dựng hệ thống luật pháp, bổ sung, sửa đổi Hiến pháp phù hợp với tình hình, nhiệm vụ mới của cách mạng, bảo đảm cho công cuộc đổi mới đi đúng hướng.

Đặc biệt sau khi đề xuất và được Bộ Chính trị đồng ý, đồng chí đã ký ban hành các văn bản thực hiện chính sách phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, ghi nhận công lao to lớn của nhân dân, nhất là những người mẹ đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất và bảo vệ Tổ quốc... Những cống hiến của đồng chí Lê Đức Anh rất to lớn, nổi bật trên cả lĩnh vực đối nội cũng như đối ngoại, là tấm gương sáng ngời về phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

Phát huy, tiếp nối sự nghiệp cách mạng của đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh và các nhà lãnh đạo tiền bối, những năm qua, dù còn nhiều khó khăn, thách thức, song dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, sự phối hợp giúp đỡ của các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp đã đoàn kết, đổi mới, chủ động, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu, hoàn thành toàn diện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, nổi bật là:

Thứ nhất, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước về công tác quân sự, quốc phòng; chủ động nắm, đánh giá, dự báo đúng tình hình, xử lý kịp thời, có hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ, nhất là những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, đe dọa đến độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần ngăn ngừa nguy cơ xung đột, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Chủ động nghiên cứu xây dựng, đề xuất ban hành các chiến lược, nghị quyết, kết luận, đề án quan trọng, như: Chiến lược quốc phòng Việt Nam, Chiến lược quân sự Việt Nam, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng... góp phần hoàn thiện, phát triển tư duy lý luận, nghệ thuật quân sự, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cả trước mắt và lâu dài.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và sắp tới là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, toàn quân tiếp tục quán triệt, nắm vững đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Chủ động nghiên cứu, nắm, đánh giá, dự báo đúng tình hình để tham mưu với Đảng, Nhà nước các chủ trương, đối sách xử lý thắng lợi các tình huống. Chú trọng nghiên cứu, đề xuất và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, giải pháp tổng thể, cơ bản, lâu dài giải quyết vấn đề biển, đảo, hoàn thiện chính sách pháp luật về lĩnh vực quân sự, quốc phòng. Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, bổ sung, hoàn thiện tư duy lý luận về quân sự, quốc phòng. Nghiên cứu, đề xuất ban hành, triển khai thực hiện hiệu quả đề án xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tiến tới xây dựng Quân đội hiện đại trong giai đoạn mới...

Thứ hai, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã chủ động phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương chỉ đạo phát huy sức mạnh tổng hợp, huy động hiệu quả các nguồn lực, củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng của đất nước. Xây dựng, nâng cao chất lượng hoạt động của phòng thủ quân khu, khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố. Tiềm lực chính trị tinh thần và “thế trận lòng dân” được xây dựng ngày càng vững chắc; tiềm lực khoa học-quân sự được đầu tư xây dựng có bước phát triển mới. Đã chủ động điều chỉnh quy hoạch tổng thể thế bố trí quốc phòng. Thực hiện tốt công tác giáo dục quốc phòng, an ninh. Điều chỉnh tổ chức, quản lý chặt chẽ các đơn vị dự bị động viên; coi trọng nâng cao chất lượng dân quân tự vệ. Phối hợp chặt chẽ với công an và các lực lượng giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, cuộc sống bình yên của nhân dân. Tích cực, chủ động ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh phi truyền thống. Đặc biệt, trong phòng, chống dịch Covid-19 và giúp đồng bào miền Trung khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu nạn vừa qua, với tinh thần “vì nhân dân quên mình”, toàn quân đã không quản ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh, kịp thời có mặt ở những nơi gian khó, phối hợp xử lý có hiệu quả các tình huống; khẳng định vai trò của “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”, xứng đáng là Quân đội của dân, do dân, vì dân, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ ngày càng tỏa sáng.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, Quân đội cần phát huy tốt hơn nữa vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng, an ninh, tạo chuyển biến rõ nét về nhận thức, trách nhiệm, hành động của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội đối với hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tích cực tham gia xây dựng hệ thống chính trị các cấp vững mạnh, nhất là cấp cơ sở ở các địa bàn chiến lược, trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân làm nền tảng xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng, chuẩn bị tốt các tiềm lực quốc gia. Phối hợp với các ban, bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 22-9-2008; Kết luận số 64-KL/TW ngày 30-10-2019 của Bộ Chính trị, nâng cao chất lượng xây dựng, hoạt động khu vực phòng thủ các cấp gắn kết chặt chẽ với thế phòng thủ của quân khu và phạm vi cả nước. Đổi mới, nâng cao chất lượng xây dựng, huấn luyện, hoạt động của dân quân tự vệ, dự bị động viên. Kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh với kinh tế-xã hội, kinh tế-xã hội với quốc phòng, an ninh. Triển khai xây dựng quy hoạch tổng thể bố trí quốc phòng gắn với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án phát triển kinh tế-xã hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.

Thứ ba, toàn quân quán triệt, thực hiện nghiêm túc chủ trương xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tập trung đẩy mạnh thực hiện tốt 3 đột phá, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về tổ chức, biên chế; huấn luyện và đào tạo; xây dựng chính quy, chấp hành kỷ luật, pháp luật và cải cách hành chính. Triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện Kết luận số 16-KL/TW ngày 7-7-2017 và Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 1-8-2017 của Bộ Chính trị về tổ chức lực lượng và bảo đảm vũ khí, trang bị cho QĐND Việt Nam. Quyết liệt điều chỉnh tổ chức lực lượng theo hướng tinh, gọn, mạnh; các đề án, dự án mua sắm, sản xuất, nghiên cứu, cải tiến vũ khí, trang bị bảo đảm an toàn, tiết kiệm. Chất lượng huấn luyện, diễn tập từng bước được nâng lên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Quân đội. Các cơ quan, đơn vị đã quán triệt thực hiện tốt phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc” trong huấn luyện theo Nghị quyết số 765-NQ/QUTW ngày 20-12-2012 của Quân ủy Trung ương. Coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, lấy thực hành là chính; huấn luyện làm chủ vũ khí trang bị mới, hiện đại, huấn luyện đêm, huấn luyện cơ động, huấn luyện theo tình huống và tăng cường rèn luyện, nâng cao thể lực của bộ đội. Chỉ đạo tổ chức tốt diễn tập, luyện tập ở các cấp; đổi mới nội dung, phương pháp diễn tập tác chiến phòng thủ quân khu; diễn tập khu vực phòng thủ các cấp; diễn tập phòng, chống các thách thức an ninh phi truyền thống; diễn tập, luyện tập các phương án tác chiến bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng; diễn tập phòng, chống dịch viêm đường hô hấp cấp Covid-19... Công tác giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học được triển khai chặt chẽ, đồng bộ, toàn diện. Các nhà trường Quân đội đã chú trọng thực hiện tốt Chiến lược phát triển giáo dục-đào tạo giai đoạn 2011-2020; tích cực đổi mới nội dung, chương trình theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa và liên thông”, sát mục tiêu, yêu cầu đào tạo; phát huy, nhân rộng những mô hình mới, cách làm sáng tạo trong dạy và học; tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo; xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, có cơ cấu hợp lý và chất lượng ngày càng cao. Nền nếp chính quy có chuyển biến tiến bộ rõ rệt; kỷ luật, kỷ cương được tăng cường. Công tác hậu cần, kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng có bước phát triển toàn diện, bảo đảm tốt cho các nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu.

Thứ tư, toàn quân luôn quán triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận, hướng dẫn của Trung ương và Quân ủy Trung ương về công tác xây dựng Đảng. Các cấp ủy, tổ chức đảng thuộc Đảng bộ Quân đội chấp hành nghiêm nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, nội bộ đoàn kết thống nhất cao; chủ động đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; được Trung ương đánh giá là Đảng bộ gương mẫu, đi đầu trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ Quân đội được nâng lên, lãnh đạo toàn quân thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Phát huy những thành quả đã đạt được, Quân ủy Trung ương, thủ trưởng Bộ Quốc phòng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; quán triệt, triển khai thực hiện nhiệm vụ, giải pháp công tác xây dựng Đảng theo các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Trung ương, nhất là các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng Đảng gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2015 của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 87-CT/QUTW ngày 8-7-2016 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong Quân đội; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện “Cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội trong tình hình mới”(*); thực hiện nghiêm các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tổ chức đảng và tổ chức cơ quan chính trị trong QĐND Việt Nam; giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và sự nghiệp quốc phòng. Chấp hành nghiêm nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng. Thường xuyên củng cố, kiện toàn các cấp ủy, tổ chức đảng; gắn xây dựng đội ngũ cấp ủy viên với cán bộ chủ trì các cấp; đổi mới phương pháp, phong cách công tác; nâng cao tính chiến đấu, năng lực lãnh đạo và tổ chức thực hiện nghị quyết ở các cấp. Phát huy trách nhiệm nêu gương, vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh gắn với xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”.

Thứ năm, cùng với hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao của Nhà nước, ngoại giao nhân dân, công tác hội nhập quốc tế, hoạt động đối ngoại quốc phòng không ngừng được đẩy mạnh, đạt được nhiều thành tựu nổi bật, góp phần quan trọng nâng cao sức mạnh chiến đấu và vị thế của quân đội, bảo đảm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.

Các cơ quan, đơn vị đã quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước; triển khai đồng bộ, toàn diện, có chiều sâu, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ Quân đội. Tích cực tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò của công tác đối ngoại quốc phòng trong thời kỳ đẩy mạnh hội nhập quốc tế; sự kết hợp giữa công tác đối ngoại với công tác quốc phòng, quân sự. Thực hiện linh hoạt, sáng tạo các nguyên tắc, phương châm đối ngoại; chú trọng chất lượng công tác nắm tình hình, tham mưu và năng lực tổ chức thực hiện. Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa cơ quan chuyên trách với các cơ quan, đơn vị liên quan; giữa cơ quan tham mưu với cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện. Huy động rộng rãi các lực lượng tham gia đối ngoại quốc phòng theo phân cấp, chức năng, nhiệm vụ được giao. Lấy lực lượng chuyên trách của Bộ Quốc phòng làm nòng cốt, phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương và nhân dân tiến hành hoạt động đối ngoại quốc phòng bằng các hình thức, biện pháp phù hợp, sáng tạo, hiệu quả, giữ vững môi trường hòa bình, hợp tác cho sự phát triển, nâng cao vị thế của đất nước.

Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh là dịp để chúng ta tưởng nhớ, tôn vinh, tri ân những cống hiến to lớn của đồng chí và các thế hệ lãnh đạo tiền bối đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc. Noi gương đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh và lớp cha anh đi trước, toàn quân không ngừng học tập, rèn luyện, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, đoàn kết, thống nhất xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

-----------------------------

(*)Nghị quyết số 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong QĐND Việt Nam.

Đại tướng NGÔ XUÂN LỊCH, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng

Theo Báo Quân đội Nhân dân điện tử

https://www.qdnd.vn/quoc-phong-an-ninh/xay-dung-quan-doi/noi-guong-dai-tuong-le-duc-anh-toan-quan-phan-dau-hoan-thanh-xuat-sac-nhiem-vu-quan-su-quoc-phong-trong-thoi-ky-moi-645173